Cách Đặt Tên Bé Gái Ấn Tượng và Ý Nghĩa Mang Lại Nhiều May Mắn

  • Viết bởi: Ngọc Phương
    Ngọc Phương Tôi là Ngọc Phương, hiện đang đảm nhiệm vị trí Content Writer cho Vạn Sự Như Ý
  • 41 Lượt xem
  • Cập nhật lần cuối 30/01/2023
  • Reviewed By Lâm Huyền Cơ
    Lâm Huyền Cơ Lâm Huyền Cơ là người yêu thích tìm hiểu các kiến thức phong thủy cổ đại, bên cạnh đó còn nghiên cứu kinh dịch và phong thủy hiện đại.

Các cách đặt tên cho bé gái hay, ấn tượng mà không bị trùng lặp và nhiều ý nghĩa, mang lại nhiều may mắn cho con

ĐẶT CHO CON GÁI MỘT CÁI TÊN THẬT ĐẸP

Điều thường thấy trong việc đặt tên cho con gái đó là thường dùng những tên có thể nói lên vẻ đẹp của người con gái.Vậy một cái lên như thế nào mời cho chúng ta thấy được điều đó. Dưới đây là một số phương pháp đơn giản để giúp cho độc giả có thể tham khảo trong việc đặt tên cho con gái.

1. Dùng chữ có bộ “nữ” trong tiếng Hán để đặt tên

Trong chữ Hán, mỗi bộ có một trường nghĩa khác nhau, như bộ “mộc” ghép với bộ khác thường chỉ về các loài cây cỏ, bộ “nhân” khi ghép với bộ khác thường chỉ những gì liên quan den người, bộ “thuỷ” khi đi với bộ khác thường chỉ những gì liên quan tới nước...Nên người Trung Quốc khi đặt tên cho con gái, phương pháp đơn giản nhất là tìm chữ bộ “nữ” (chĩ những gì liên quan đến con gái). Ví dụ như: Như, Nghiêm, Yên, Vũ, Diệp, Giao, Kiều, Loan, Tư, Oa, Cơ, Nhiễu, Nhân, Thục, Na, Nhàn, Nga, Sính, Quyên, MỊ, Yuển, Ái, Vĩ, Thanh, Á, Tường, Thiếu...

Chữ “Như” (có bộ “nữ” và bộ “khẩu” ). Ý nghĩa của chữ này là “giống như”. Trong khi đặt tên người ta thường lấy con người để so sánh với một sự vật nào dó, như một người tên là Vương Phụng Như thì ý nghĩa của tên này muốn hàm ý chỉ người này đẹp như chim Phượng, hay như Bạch Như Băng hàm ý chỉ giống như tuyết. Vì vậy chữ “Như” trong tên người cần thêm một chữ nữa để có thể lột tả được hết ý nghĩa của nó, đó chính là điều mà các bạn mong muốn con gái mình giống cái gì đó, và sau chữ đó sẽ thêm chữ gì. Ví dụ như bạn muốn con gái bạn giống như những viên ngọc bạn có thể đặt lên con là Bạch Như Ngọc hay là một số tên như: Lý Như Tinh, Kim Như Hà,... đều là những tên rất hay.

Chữ “Nghiêm ” có ý nghĩa là tươi đẹp, người mang chữ này Irong tên người rất nhiều, nếu dùng tên đơn như Trần Nghiêm, Lý Nghiêm, Vương Nghiêm... thì việc trùng ten rất nhiều, do vậy khi đặt tên không nên dùng ten đơn mà cần thêm một chữ nào đó vào sau chữ to

Nghiêm như Trần Nghiêm Từ, Lý Nghiêm Nghi, Vương Nghiêm Ni...

Chữ “Yên" mang ý nghĩa là màu hồng tươi sáng. Trong cuốn tiểu thuyết “Thiên Long Bát Bộ” thời nhà Kim, Đường có cô gái tên là Vương Ngữ Yên, chữ “Yên” được dùng rất hay mà ý nghĩa của chữ này chính là chỉ những lời cô gái nói rất dí dỏm, tự nhiên để rổi làm cho người ta cảm thấy ai ai cũng đẹp. Bởi thế chữ “Yên” rất thích hợp trong việc dùng để đặt tên, cũng như dùng ở giữa hoặc sau. đều hay, như Trương Tuyết Yên, Lý Yên Vân, Dương Thu Yên, Vương Sở Yên...

Chữ ‘Vũ” có thể hình dung người con gái có thân hình rất đẹp. Do cách đọc mà khi lấy chữ này đặt tên cần phải tránh những ý nghĩa khác nhau, nguyên nhân bởi đọc liền gây ra, đồng thời cũng phải xem chữ đó đọc lên có xuôi không.

Trong lịch sử có Vũ Mị Nương tức Hoàng hậu Võ Tắc Thiên, ba chữ Vũ Mị Nương của bà ta không mang họ, nếu thêm họ lại dùng hai chữ Vũ Mị thì nghe không hay trừ phi dùng bốn chữ. Nếu như “Vũ” đạt ở giữa kết hợp với tên loài chim, loài hoa nào đó hay sự vật nào đó đẹp thì nghe rất hay như Lý Vũ Quyên, Tống Vũ Xuân...

Cỉiữ “Diệu " bản thân nó cũng là họ, do vậy trong tên người dùng chữ này không nhiều, ưong tác phẩm “Hổng Lâu Mộng” có Diệu Ngọc nếu dùng chữ “Diệu” vào trong tên người cũng được. Khi dùng chữ này ở giữa sẽ có những tên rất hay, chỉ cần chú ý để cho người nghe cảm thấy thuận tai như: Lý Diệu Hồng, Khương Diệu Hương, Tôn Diệu Quyết, Thư Diệu Vân...

Chữ “Kiêií ” mang ý nghĩa chỉ người con gái dịu dàng, xinh đẹp và đáng yêu giống như một số từ yểu điệu, duyên dáng, kiều diễm, xinh xắn, dễ thương... đều là những từ rất hay. Dùng chữ “Kiều” đặt tên có thể bộc lộ một cách đầy đủ vẻ đẹp của người con gái. Đặc điểm của chữ này có thể dùng hai chữ giống nhau để đặt tên như: Lý Kiều Kiều, cũng có thể dùng ở giữa như Hứa Kiều Dung, Giang Kiều Ngọc, Tấn Kiều Mi. Chữ “Kiều” để cuối cũng rất hay và thuận lợi như Vãn Bích Kiều, Phạm Đình Kiều, Tiêu Tiểu Kiều, Tiêu Kiều...

Chữ “Giaữ " là chữ thường hay dùng trong việc đặt tên, mang ý nghĩa chỉ vẻ đẹp bên ngoài của người con gái. Ý nghĩa của chữ này so với chữ “Kiều” có một chút khác biệt. Dùng chữ “Giao” để đặt tên hay hơn nhiều so với dùng những chữ Lệ, Mỹ, như Dương Liễu Giao, Lý Ngưỡng Giao, Lưu Thiên Giao...

Chữ “Tư” mang ý nghĩa chỉ người con gái có dung mạo và thân hình rất đẹp. Tuy nó là chữ thường dùng, nhưng tần suất xuất hiện ở trong Họ không nhiều. Kỳ thực nếu dùng chữ “Tư” trong tên người nghe rất hay, như Lê Tư, Trần Tư Tư, Diệp Tư Vi, Tế Yến Tư...

Chữ “Cơ” là một cách gọi đẹp đối với phụ nữ thời kỳ cổ đại, cũng có thể giải thích là người con gái sống bằng nghề ca hát. Trong tên gọi của người phụ nữ tộc người Triều Tiên Trung Quốc thường hay dùng chữ "Cơ”, điều này có thổ liên quan đến khả năng ca hay múa giỏi của họ, vì vậy việc lấy chữ “Cơ” đặt tên có thể làm cho mọi người liên tưởng tới khả năng ca hay múa

 

giỏi của người đó, có một số tên của người phụ nữ tộc Triều Tiên nghe rất hay đồng thời có thể dùng để nghiên cứu, tham khảo như Phác Thuận Cơ, Kim Cơ, Ngân Cơ...

Chứ “Nhiễu ” và tổ từ “Kiều ” mang ý nghĩa chỉ người con gái xinh đẹp kiều diễm. Nhưng những từ có thể kết hợp được với chữ “Nhiễu” không nhiều, do vậy khi lấy chữ “Nhiễu” để đặt tên nên xem xét liệu có thể kết hợp được không, đặc biệt là khi nói ra phải thuận mồm như: Tô Nhiêu, Vương Nhiễu...

Chữ “Thục" mang ý nghĩa chỉ người con gái đẹp, dùng chữ “Thục” đật tên dễ kết hợp vói nhiều chữ khác, đồng thời không bị trùng tên, như: Lý Uyển Thục, Thẩm Thục Quyên, Trương Thục Ái...

Chữ “Na " có câu nói “Thướt tha uyển chuyển” muốn chỉ người con gái xinh đẹp thướt tha. Chữ “Na” ở trong tên mang ý chỉ xinh đẹp dịu dàng. Chữ “Na” khi dùng đối với các danh nhân âm đọc tiếng Hán là “Na” không đọc “Núc” như: Lý Vân Na, Văn Lệ Na, Cao Na Tiền, Thẩm Na Na...

Chữ “Nhăn" mang ý nghĩa chỉ người con gái nho nhã thanh tao. Dùng chữ “Nhân” để đặt tên chủ yếu mang ý nghĩa trên. Có thể dùng trực tiếp hai từ để đặt tên, cũng có thể đảo ngược một trong hai chữ như: Trương Tịnh Nhân hay Trương Nhân Tịnh, ngoài ra cũng có thể dùng chữ “Nhân” ở giữa như Thẩm Nhân Quân, Chu Nhân Vân...

Chữ "Sính“Sính Đường” là từ thường dùng để miêu tả người con gái có dáng dấp đẹp, dùng từ Sính Đình dặt tên cũng rất hay, như Tương Sính Đình, cũng có thể dùng chữ Sính kết hợp với chữ khác như Hứa Sính Trân, Hà Sính Sính, Trương Nghiêm Sính, Vương Vũ Sính, Triệu Phiêu Sính...

Chữ “Quyên" mang-ý nghĩa chỉ đẹp, lộng lăy. Con gái dùng chữ này đặt tên rất nhiều, tương truyền người hầu gái của Khuất Nguyên tên là Thiền Quyên, nhưng dùng từ này không khéo rất dễ ưùng tên. Để tránh ưùng tên tốt nhất không nên dùng chữ “Quyên” làm tên đơn, người tên là Vương Quyên, Lý Quyên lại quá nhiều. Trong tên có ba chữ, chữ Lệ Quyên cũng rất hay trùng tên. Do vậy phải chú ý những chữ kết hợp với chữ “Quyên” để giảm bớt sự ưùng tên như: La Quyên Thiền, Cố Quyên Di, Mẫn Quyên Như...

Chữ "Nga" mang ý nghĩa chỉ mỹ nữ, mọi người thường dùng chữ “Mày ngài” để miêu tả đôi lông mày nhỏ, dài mà cong của người con gái. Dùng chữ “Nga” rất dễ chọn lựa những chữ mà có thể kết hợp với chữ này, như Hạ Nga Ni, Mục Nga Khiết, Tạ Huỳnh Nga, Lý Tịnh Nga...

Chữ "Mị" mang ý nghĩa chỉ sự đáng yêu, tốt đẹp của người con gái. Mọi người thường hay dùng câu “cảnh xuân tươi đẹp” để miêu tả thời tiết đẹp, khi đạt tên có thể dựa vào hàm ý tươi đẹp, tốt đẹp để đặt tên. Cằch gọi đáng yêu của Hoàng hậu Võ Tắc Thiên là MỊ Nương. Chữ “Mị” dùng ở giữa tên người thì rất dễ kết hợp với nhiều chữ khác như: Cao Mị Khiết, Tế MỊ Sinh, Triệu Mị Điệp...

Chữ “Uyển” mang ý nghĩa chỉ sự nhu mì hoà thuận. Cách đọc chữ “Uyên” nghe rất hay, dù đặt ờ giữa hay ở sau cùng đều là tên đẹp, như Thẩm Uyên Nông, Cao Uyển Trúc, Tề Uyển Quân, Dư Uyên Tâm, Lý Ngọc Uyển, Tô Hà Uyển...

Chữ "Ái ” mang ý nghĩa chỉ mỹ nữ, nhưng không có hình tượng cụ thể. Những người dùng chữ này đặt tên rất nhiều, nhưng có thể qua việc phối hợp, thay đổi chữ để tránh sự trùng tên như: Lâm Ái Đường, Cao Ái Như, Tất Ái Đình, Lý Khê Ái, Trương Thụ Ái...

Chữ “Vĩ” ý muốn chỉ khi nói chuyện thường làm cho mọi người cảm thấy rất hay có câu nói “nói say sưa”. Những người dùng chữ này đặt tên rất ít, nhưng cũng có thể có một cái tên khác mọi người nếu như biết kết hợp tốt, điều cần chú ý chữ “Vĩ” âm đọc cùa chữ này giống với âm đọc cũng chữ “Vĩ” (nhưng chữ viết khác), do vậy nên đặt chữ này ở giữa, như Thẩm Vĩ Thuyên, Vương Vĩ Văn, Tề Vĩ Văn...

Chữ 'Thanh ” mang ý nghĩa chỉ người con gái có tài năng, dùng chữ này đặt tên vừa hay vùa có ý nghĩa. Mặt khác, âm đọc cùa chữ “Thanh” giống với âm đọc tiếng Hán của chữ “lình”, do vậy có thể đặt tên mang hai chữ giống nhau như: Điền Thanh Thanh, Lâm Tĩnh Thanh, Từ Thanh Y, Tạ Thanh Hồng, Trương Thanh Đan, Bạch Tịnh Thanh, Lưu Nhã Thanh, Triệu Nghi Thanh...

Chữ "Á ” không có hàm nghĩa xác thực, nhung âm đọc của nó nghe rất hay, hơn nữa có chữ làm bộ thủ, có thổ dùng trong tên con gái, như Mạc Á Na, Lý Ă Ni, Kỳ Á Thanh..

Chữ “Tường” chỉ nữ quan trong cung đình xưa. Những người dùng chữ “Tường” đặt tên không nhiều, nhưng có thể dùng nó để tạo ra được những tên khác hẳn như: Trương Tường Oanh, Đổng Tường Nhuỵ, Trình Tường Lệ...

Chữ “Thiền”: chỉ người con gái có một thân hình đẹp, cố nhân thường dùng từ Thiền Quyên để chỉ ánh trăng, do vậy mà có một câu nói hay “Thiên lý công Thiền Quyên” nghĩa liếng Việt là đường xa ngàn dặm vẫn cùng ánh ưăng.

Trong lịch sử thời kỳ Tam quốc có một người tên là Điêu Thiền, chữ “Thiền” trong từ Điêu Thiền xuất phát từ đây, Điêu Thiền có một sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành tên của cô ta cũng đẹp như dung mạo ấy, có thể gọi là tuyệt thế giai nhân. Ngày nay người dùng chữ này đặt tên cTing rất hay, như: Đỗ Thiền Nguyệt, Tiêu Thiền Ngọc, Chu Mai Thiền, Lãnh Thu Thiền, 'Thạch Thiên Thiền...

2. Dùng những từ nói tới vẻ đẹp của người phụ nữ dể đặt tên

Đặt tên cho con gái bằng việc dùng những từ ca ngợi miêu tả người con gái đẹp, thường làm cho người nghe cảm thấy hay và không quên được, những từ này dùng đổ miêu tả vẻ đẹp của người con gái rất nhiều. Dưới đây là một số từ cung cấp cho các bạn có thể chọn lựa trong việc đặt tên như: Khuynh Thành, Bế Nguyệt, Tu Hoa, Trầm Ngủ, Nhu Mỹ, Nhu Mỳ, Tú Mỹ, Mỹ Lệ, Uyển Ước, Đoan Trang, Nhân Tĩnh, Nhân Nhã, Thông Tuệ, Ôn Uyển, Kiều Diễm, Thanh Lệ, Thanh Xã, Nhiễu Mỹ, Băng Thanh Ngọc Khiết, Kiều Mỹ, Thanh Linh Như Thuỷ, Thiên Kiều Bách Mỵ, Tú Cốt Thanh Tứ, Đình Đình Ngọc Lập...

Trên đây là một số từ rất đẹp, như “Trầm Ngủ” và “Lạc Nhạn” là hai từ dùng cho người đẹp thời cổ đại, nhưng khi dùng loại từ trên để đặt tên phải biết con gái của mình sau này lớn lên là một cô gái xinh xân mới được.

Làm thế nào dùng những từ miêu tả người con gái đẹp để (lật tên? Đầu tiên phải chú ý đến từ mình chọn /ới giới tính, khi đọc phải thuận mồm.

"Khuynh Thành” từ này dùng dể miêu tả vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của một người con gái. Xem xét về phương diện âm đọc nếu bạn họ Tần đặt tên cho con là “Tần Khuynh Thành” khi dọc lên không thuận miệng dồng thời không hay. Nếu bạn họ Hoa, đứa trẻ tên là “Hoa Khuynh Thành” lại rất đẹp.

"Bế Nguyệt" người xưa thường thích dùng những lừ như “Bế Nguyệt, Tu Hoa” để hình dung vẻ đẹp của người con gái. Nhưng có điều dùng từ “Bế Nguyệt” làm tên, với một số tên họ không thích hợp như: Tất, Bì, Mã, Ngưu... Khi đi với những chữ này rất dễ xảy ra nhiều ý khác, đọc liền cũng không hay. Ngược lại như họ: Trương, Vương, Lý, Triệu, Lưu... lại đều có thể kết hợp với từ “Bế Nguyệt” làm tên, đặc biệt “Vân Bế Nguyệt” là một cái tên rất hay.

Dũng những từ ca ngợi, miêu tả người con gái đẹp để đặt tên không nhất thiết quá câu nệ vào từ gốc, nhưng trên cơ sở của những từ này có sự thay đổi, vì có một số từ ưực tiếp dùng ở trong tên người nhưng nghe không hay, như tên là Mỹ Lệ thì không thường dùng, hay như tên là Ung Dung nghe không hay, có thể hợp hai từ này lại, nhưng hai từ Ung Dung và Mỹ Lệ nếu đặt một mình ở ưong tên người thì nghe không hay, cần phải thay đổi một chút, như gọi là Ung Lệ, Trương Ung Lệ đương nhiên sẽ hay hơn Trương Mỹ Lệ, thêm vào đó nó lại mang trong đó một ý nghĩa nhất định, khả năng trùng tên rất thấp.

"Nhu Mị" từ này dùng ưong tên người sẽ có một chút khiêu cường, nhưng nếu dùng đảo ngược lại là “MỊ Nhu” để đặt tên thì cũng rất mới mẻ, các tên họ như: Trương, Vương, Lý, Lưu kết hợp vói “MỊ Nhu” để đặt tên sẽ nghe rất hay. Họ kép mà dùng chữ này curfg được như Đông phương MỊ Nhu.

"Tú Mỹ” từ này có thể dùng làm tên, nhưng chữ “Tú” là chữ thường dùng trong tên, các tên họ như: Trương,Vương, Triệu, Lưu tốt nhất không nên dùng, vì rất dễ trùng tên, ngược lại các tên họ như: Phạm, Nhiệm, hoàn toàn có thể dùng được như: Phạm Tú Mỹ, Nhiệm Tú Mỹ.

“Điềm Tĩnh " từ này có nghĩa là yên tĩnh, người con gái dùng từ này để đặt tên là người rất nho nhã, lịch sự, như Trương Điềm Tĩnh sẽ hay hơn Trương Tĩnh. Cũng có thể dùng Tĩnh Điềm làm tên như: Dương Tĩnh Điềm nghe cũng rất hay.

“Ôn Nhu, Uyên ước” hai từ này trực tiếp kết hợp với họ đều không hay. Có thể dùng Nhu Uyên hay Uyên Ôn. Hay như Lý Uyên Ôn, Tạ Ôn Uyên đều là những tên biểu hiện tính cách dịu dàng, uyển chuyển của người con gái.

“Diễm Nhược Minh Hà ’’ câu thành ngữ này nhầm so sánh vẻ đẹp của người con gái với những chòm mây sáng trên bầu ười, khi đặt tên có thể dùng ngay từ Minh Hà hay Diễm Hà làm tên, như Giang Diễm Hà nghe rất hay. Nhưng điều phải chú ý ở đây là chữ Hà sử dụng trong tên nhiều họ phổ biến không nên dùng.

“Nhân Tĩnh và Nhân Nhã” là hai từ miêu tả phong cách phong thái của người con gái, nếu thay đổi, kết hợp hai từ này thì có thể dùng được trong tên. Từ “Nhân Tĩnh” làm tên nghe không hay, đổi thành “Tĩnh Nhân”, Trương Tĩnh Nhân, Triệu Tĩnh Nhân lập tức thanh cao, nho nhã dồng thời rất hay. “Nhân Nhã” có thể trực tiếp dùng trong lên, cũng có thể đổi thành “Nhã Nhân” như Mục Nhã Nhân, Hứa Nhã Nhân.

'Thông Dĩnh, Thông Tuệ” là hai từ cận nghĩa chỉ sự thông minh lanh lợi của người con gái, trong đó từ Dĩnh và Tuệ là hai chữ thường dùng trong việc đặt tên ngày nay, đặc biệt là tên đơn, xác suất trùng lên Lý Dĩnh, Vương Dĩnh, Vương Tuệ, Lý Tuệ rất lớn. Để tránh trùng tên, các họ khồng phổ biến có thể trực tiếp dùng Thồng Dĩnh, Thông Tuệ đổ làm tên như Mai Thông Dĩnh, Phan Thông Tuệ, họ phổ biến có thể thay đổi một chút như Lý Dĩnh Thông, Trương Tuệ Thông. Như vậy, có thể giảm được phần lớn khả năng trùng tên.

“Sính Đình và Miến hỉa “ là những từ miêu tả dáng dấp của người con gái, nhưng nếu dùng Sính Đình để đặt tên sẽ không hay bằng dùng “Đình Đình” chỉ có điều từ “Đình Đình” dễ bị trùng tên. Từ Niểu Na dùng để đặt tên cũng không hay bằng nếu như dùng “Na Na”, nhưng các bé gái còn có thể gọi là “Na Na” khi lớn lên rổi lại nghe không hay. Vì vậy dùng hai từ này để đặt tên phải thay đổi một chút thành “Na Đình” hay “Đình Na” như Liễu Đình Na.

“Kiều Diễm "miêu tà vẻ đẹp của người con gái, có thể trực tiếp làm tên, nhưng nên biến đổi một chú? thì sẽ hay hơn. Như: Lý Kiều Diễm hay không bằng Lý Diễm Kiều, họ kép cũng có thể lấy từ “Diễm Kiều” Âu Dương Diễm Kiều nghe có cảm giác hay hơn Âu Dương Kiều Diễm.

"Lình Tủ “ là từ miêu tả người con gái thông minh xinh đẹp, những người có tên là Lý Linh Tú, Vương Tú Linh rất nhiều, ngoài ra có khi còn lách đôi làm tên như “Linò” hay “Tú” ví dụ tên gọi là Chung Linh, Dương Tú. Có thổ thấy rằng hai chữ này rất thích hợp dùng với tên của con gái. Nhưng dù là Linh Tú hay Tú Linh, hoặc dùng đơn “Linh”, “Tú” đều rất dẽ trùng tên, do vậy trước và sau hai chữ Linh và Tú thêm chữ thích hợp sẽ làm cho ý nghĩa của tên sáu sắc hơn, đồng thời cũng giảm bớt sự trùng tên như: Trương Linh Kính, Hồ Linh Phi, Dương Thâm Tú.

"Băng Thanh Ngọc Khiết ’’ là câu thành ngữ chỉ cái phẩm chất thuần khiết của người con gái, Băng Thanh, Ngọc Khiết có thể chia ra và dùng trực tiếp trong tên người như: Dương Băng Thanh, Trương Ngọc Khiết. Cũng có thổ ^qhọn lựa chữ trong đó để đặt tên như: Dương Ngọc Băng, Kim Thanh Ngọc, Lý Khiết Băng .

"Kiều Mị’’ miêu tả tư chất tốt đẹp của người con gái có thể dùng trực tiếp đặt tên. Nếu như thay đổi Kiều Mị thành Mị Kiều, thay đổi thanh 4 của chữ cuối cùng thành thanh / thì nghe sẽ hay hơn như: Lý Mị Kiều, Lâm Mị Kiều...

"Thanh Linh Như Thúy" miêu tả người con gái trong trắng thuần khiết như nước. Dùng nó đạt tên và chú ý dùng chữ “Như”. Ví dụ: Triều Như Thanh, Dương Như Thuỷ, Lý Như Linh, hoặc có thể thay đổi chữ “Như” thành chữ “Nhược” cùng nghĩa nhưng không cùng âm, như Chu Nhược Thanh, Giang Nhược Thuỷ, Trương Nhược Linh..

"ôn Nhu Như Mộng ” miêu tả sự dịu hiền có một chút mơ mộng của người con gái. Dùng để đặt tên như: Lý Như Mộng ngoài ra còn có thể dùng hai chữ như: Như Vân Mộng Nhu.

"Thiên Kiều Bách Mị" trên cơ sở nhẹ nhàng, mềm mại thêm thành phần tu sức. Từ “Thiên” và từ “Bách” xuất hiện không nhiều ưong tên, trên thực tế không phải không sử dụng được. Còn nhớ tôi có người bạn học cấp một tên là sử Thiên Thiên, nghe tên cũng hay. Do vậy có thể thấy lấy tên là Bách Kiều hay Thiên Kiều đều có thể được như Lâm Bách Kiêu.

‘Tủ Cốĩ Thanh Tứ" miêu tả các phẩm chất đức hạnh tốt đẹp và dung mạo đẹp đẽ thanh thoát của người con gái.

Trong đó chữ “Cốt” không thích hợp cho việc đặt tên, nhưng Thanh Tứ, Tứ Thanh hay Thanh Tú đều có thể dùng được trong tên người như: Lý Thanh Tứ, Trương Thanh Tứ. Tần suất sử dụng chữ Thanh Tú trong tên họ rất cao, các họ phổ biến lấy nó làm tên rất dễ xảy ra trùng ten, tên họ không phổ biến hay tên lục kép hoàn toàn có thể sử dụng như: Điêu Thanh Tú.

"Nộn Liễu Phổi Thuỷ" miêu tả dáng vẻ nhẹ nhàng của người con gái, ngoài ra còn hàm chứa sự dịu dàng của người phụ nữ. Khi đặt lên có thể dùng Phất Liễu, sở dĩ lấy chữ Liễu đổ miêu tả sự dịu dàng như Ôn Phất Liễu, Dương Phất Liễu.

"Phiêu Dậỉ Thanh Tú ’’ so với “Thanh Tú” thì sắc thái lãng mạn đã tăng thêm có thể dùng chữ “Dật Thanh” hoặc “Thanh Dật” để đặt tên như: Tô Dật Thanh, Triệu Thanh Dật,... khi nghe có cảm giác nhẹ nhàng và có nhiều ý vị.

“Đình Đĩnh Ngọc Lập” miêu tả thân hình thon thả và xinh đẹp của người con gái. Có nhiều con gái tên là “Đình Đình” nhưng nghe nhiều rồi cảm thấy bình thường, không hay. Thực ra chữ “Đình” vẫn có thể dùng, chỉ cẫn ưánh tên đơn hay chữ kép thường gặp (Trương Đinh, Trương Đình Đình), thay đổi một chút sẽ có những tên hay mới lạ như: Trương Đình Ngọc, Trương Vũ Đình...

Có thể thấy rằng, từ dùng để miêu tả vẻ đẹp của một người coil gái rất phong phú giúp cho bạn có thể lựa chọn, song để có được một cái tên hay và ý nghĩa điều này còn phụ thuộc vào cách suy nghĩ của mỗi người trong chúng ta.

3. Chọn những tên có bộ vương bên cạnh mang ý nghĩa cao quý

Những chữ có bộ vương làm bộ thủ trong tiếng Hán thường có một phần ý nghĩa, những viên Ngọc đẹp có giá trị trong đó có một cái tên thích hợp cho con gái, thường có những chữ sau:

Cửu, Mã, Vĩ, Phần, Quyết, Kha, Long, Sau, Linh, Trân, Phách, Mân, Pha, Già, Hỗn, Nhĩ, củng, Dao, Chu, Lang, Uyển, Quỳnh, Thâm, Kỳ, Anh, Lâm, Côn, Cư, Sất, Vicm, Du, Khôi, Đường, Dao, Chương, Tuyền, Cầu, Hoàng, Thôi, Phác, Lộ, Toàn..

í'húng ta sẽ nghiên cứu cách dùng những chữ trên đây trong việc đặt tên.

‘'Cửu" là một loại đá có màu đen nhạt rất giống Ngọc. Theo khảo sát nghiên cứu tài liệu trong hộ tịch ở thành phố Bắc Kinh, những người dùng chữ “Cửu” (nghĩa khác chữ “Cửu” trên) rất nhiều, số người dùng chữ “Cửu” rất hiếm, điều này cho thấy chữ “Cửu” này nên khai thác và sử dụng trong việc đặt tên. Ta thấy rằng từ góc độ nghĩa của chữ. Chữ “Cửu” có nghĩa đẹp, rắn chắc, tên của người con gái mang hai tầng nghĩa này thì đã rất đẫy đủ.

Âm đọc của chữ “ Cửu” cũng phù hợp với người con gái thích tên họ giống tính cách con ưai.

"Mã" là một loại đá mã não. Đá mã não là một loại khoáng vật đẹp như Ngọc, dùng chữ “Mã” để đặt tên ít nhiều cũng có một chút gì đó mới lạ, nghe rất là thú vị, như Triệu Mã Ngọc, Lý Kiều Mã, Lạc Mã Lệ.

"Vĩ" là một loại ngọc nổi tiếng, mang ý nghĩa quý hiếm và đắt tiền. Dùng chữ này đặt tên có rất nhiều chữ có thổ kết hợp với nó như: Lưu Vĩ Lăng, Lý Vĩ Đồng, Triệu Tích Vĩ, Trương Vĩ...

"Tân" là tên gọi của một loại ngọc. Hiện nay mọi người dùng chữ “Phần” nhiều hơn, nhưng dù sao chữ “Tân” hay và đẹp hơn chữ “Phần”. Chữ “Tân” là chữ có nhiều âm đọc, khi nói đến đá ngọc phải đọc âm “bin” âm Hán viột là “Tân”. Nhưng người viết cho rằng dùng chữ “Phần” để đặt tên cũng khá hay, vì đa số mọi người không biết ý nghĩa đích thực khi gọi tên, hơn nữa lại phải phân biệt ra âm đọc của những chữ đa âm. Viết kết hợp với chữ “Phẩn’ rất dễ rơi vào trường hợp lâu ngày tlỉành bình thường không hay, do vậy phải chú ý tránh những chữ kết hợp với chữ “Phần” như: Tuyết, Thục, Ngọc,... tốt nhất không nên dùng, có thể dùng tên như Lý Song Phần, Vương Cảnh Phần, Lưu Tụ Phần.

Chữ "Kha”: chữ “Kha” chỉ một loại đá giống Ngọc. Trong tài liệu về nhân khẩu dùng chữ này đặt tên đa số là tên đơn như: xa Kha, Lý Kha. Nhưng chữ này nếu dùng trong tên có ba chữ sẽ hay hơn, hậm ý sâu sắc hơn, ngoài ra nếu dùng ở giữa hoặc ở cuối đều có thể được như Lý Kha Trương, Vương Kha Mai, Lý Mai Kha, Trương Ngọc Kha...

Chữ "Quyết" chỉ hai miếng Ngọc ghép lại với nhau. Còn chữ thời trung học, một người bạn cùng trường tên là Hoàng Nhân Quyết. Do chữ “Quyết” có âm đọc trùng với chữ cũng có âm đọc là Quyết (chữ khác) người bạn đó rất xinh vì vậy có rất nhiều người trong lớp nói cô ta không hổ danh là tuyệt thế giai nhân trong lòng mọi người. Khi đó, tôi đã có một ấn tượng rất sâu sắc với chữ “Quyết” này. Dùng chữ “Quyết”để đật tên, họ không phổ biến có thổ dùng tên đơn, họ phổ biến có thể dùng ba chữ. Đồng thời chú ý chọn lựa chữ vào sau cho nó thích hợp như: Vưu Kha, Long Kha, Lưu Văn Kha, Dương Nhuận Kha...

Chữ "Long chữ “Long” thường có tổ từ là Long thông, Linh Long, hình dung tiếng vàng ngọc và vào nhau kểu loảng xoảng. Dùng chữ “Long” để đặt tên, mang hàm ý của âm thanh đó. Chữ “Long Thồng” có thể trực tiếp làm tên như: Lý Long Thông, cũng có thể kết hợp với chữ khác để đặt tên như: Lý Kim Long, Ư Thích Long, Kim Long Xán...

C7/í7 "Sơn vẻ đẹp của San từ luôn làm cho người ta cảm thấy thích thú, vì vậy người dùng chữ này đặt tên cũng khá nhiều. Để nghiên cứu chữ này người viết đã ưa cứu rất nhiều tài liệu nhân khẩu và đã thấy rằng không cần biết họ gì, mỗi một tên họ đều có tới mười mấy người tên là “San San”, tần xuất của loại tên này làm chúng tôi không nghĩ tới. Do vậy có thể thấy rằng tên gọi trùng “San San” rất bình thường. May mà âm đọc của nó có thể kết hợp được với nhiều chữ khác, nên dùng nó để đặt tên quả thật không phải là chuyện khó như: Tô San Na, Lý San Tuyết, Hứa Uyên San...

Chữ "Linh là từ tượng thanh, miêu tả tiếng ngọc va vào nhau. Có câu thành ngữ “Tinh xảo thanh thoát” đổ nói lên sự tinh tê' tinh xảo cùa đồ vật, nhưng những họ phổ biến thường dùng ưong tên người như họ: Trương, Vương, Lý, Triệu,...dùng với chữ “Linh” để đặt tên rất dễ trùng tên, những họ không phổ biến có thể tránh được việc này như: Sao Cương Linh, Tân Linh Ngọc, Trang Linh Tích ...

Chữ "Trân": chỉ những thứ quý giá, đây là một trong những chữ có tần suất sử dụng rất cao. Hiện nay, mà còn tập hợp trong một số tên nhìn Tú Trân, Thục Trân, Ái Trân, Bảo Trân, Tô' Trân, do vậy muốn tránh trùng tên chỉ cần chọn lựa kỹ càng chữ muốn kết hợp là được như: Trương Khê Trân, Lý Trân Quân, ủ Trân Tuệ, Vương Đình Trân...

Chữ ‘Thách”: chỉ một loại đá trổ Phách, có thể chê' tạo thành các loại hàng thủ công mỹ nghệ, đồ ưang sức quý. Chữ “Phách” trong tên người không thường gặp, nhưng dùng chữ này đặt tên rất hay như: Trương Phách Dung, Lưu Vãn Phách, Dương Phách Dư, Đổng Ngọc Phách...

Chữ "Mân là một loại đá giống ngọc, hiên nay dùng chữ này để đặt tên rất ít, mà chữ đổng âm với chữ này lại được dùng rất nhiều, trùng tên rất nhiều như tần suất trùng tên của Lý Thục Mẫn gặp mấy lần so vơi tên Lý Thục Mân. Kỳ thực chữ “Mân” bào hàm ý nghĩa chỉ sự rắn rỏi, xinh đẹp, dùng chữ “Mân” có thể có một cái tên rất nho nhã, cao sang như: Lý Mân Trúc, Triệu Mân Uyên, Vương Trác Mân.

Chữ ‘'Già": là một loại đồ trang sức của phụ nữ thời cổ đại. Tần suất sử dụng chữ này trong tên rất thấp, nhưng tên đồ trang sức làm tên không phải là không có thể. Chữ “Thoa” trong tên Tiết Bảo Thoa “Hồng Lâu Mộng” chính là tên của một loại trang sức (ưâm cài tóc), nghe rất hay, nên việc dùng tên đổ trang sức để đặt tên là có thể được. Chữ “Già” dùng trong tên có thể kết hợp với những chữ mang hàm ý chỉ ngọc, đá như: Lý Già Phần, Trương Già Du, Vương Nhuận Già.

Chữ "Hon ": lả một loại Ngọc, chữ “Hỗn”là chữ đa âm có hai âm đọc là “Hùi” và “hún” (đọc theo âm tiếng Hán).

Chữ "Hỗn "dùng trong tên nên dùng âm “hùi” song song sẽ kết hợp chữ “Hỗn” và chữ “già” với nhau chẳng hạn Triệu Già Hỗn, kết hợp với những chữ chỉ ngọc như: Lý Linh Hỗn, Vương Quỳnh Hỗn.

Chữ "Nhĩ" chỉ cái hoa tai được làm từ ngọc trai hay đá ngọc. Hiện nay một số người muốn dùng chữ có âm của chữ “Nhĩ” (viết khác chữ trên) để đặt tên. Khảo sát từ các tài liệu về hộ khẩu những người có tên là Nhĩ căn không ít đó là sở thích của môĩ người. Nhũng người viết cho rằng chữ có âm đọc là “ẽi” phải kể đến chữ “Nhĩ’ nó phù hợp với tên của con gái, vì nó giống như chữ Thoa trong tên Tiết Bảo Thoa vậy, vừa đáng giá vừa là vật trân ưọng giữ gìn như: Trương Nhĩ Đan, Lý Nhĩ Ni, Triệu Nhĩ Chu...

Chữ "Củng" là một loại ngọc ngoài ra có một loại cây gọi là Củng Đổng, vì vậy mà chữ Củng cũng có thể giải thích là một loài cây. Chữ “Củng” đọc âm “Củng” (chữ viết khác) xét về phương diện này chữ “Củng” dường như không thích hợp với tên có ba chữ. Diễn viên tướng thanh (loại hình nghệ thuật như trề môi, trề gậy trong chèo, tuồng) có tên đơn là Phùng Củng, đọc lên còn thuận miệng, nếu mà ba chữ lại không thuận miệng. Nhìn từ góc độ tránh trùng tên không nên đặt tên đơn, nhưng tần suâì xuất hiện chữ “Củng” trong tên hiện vẫn

 
thấp, đây có thể coi là một chữ đặc thù dùng trong tên đơn. Con gái thích nam tính hoá qua việc đặt tên, đồng thời trong ten có hàm ý chỉ ngọc, dùng chữ “Củng” để đặt tên phải chú ý khi đọc liền với chữ “Củng” phải thuận miệng như; Tần Củng, Dương Củng...

Chữ “Châỉi" chỉ châu báu ngọc trai, tần suất sử dụng chữ này trong tên gọi rất lớn, nhưng vẫn có nhiều người thích đặt tên cho con trùng tên và mang chữ “Châu” này, có điều phải chú ý đến việc ưùng tên nếu không có thể làm cho tên của đứa trẻ ưở nên bình thường không độc đáo. Từ góc độ ý nghĩa của từ có một số chữ kết hợp với chữ này có thể có những tên hay hơn nữa khảo sát những tên này trong danh sách hộ tịch lại không có sự trùng tên nhưiLâm Châu, Lý Anh Châu...

Chữ "Dao” chỉ một loài vỏ trai, vỏ ốc có thể dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ. Chữ “Dao” và chữ “Dao” (cùng âm khác cách viết) dùng tên của âm đọc chữ này rất thường gặp như chữ Dao (âm đọc là “Yào”), Nghiêu (âm đọc tiêng Hán là “Yáo”), Diệu (âm đọc tiếng Hán là “Yào”), đều là những chữ dùng để đặt tên rất nhiều. Trong một số chư đồng âm, sự xuất hiện của chữ “Dao” trong tên rất lớn. Chữ ‘ Dao” dùng ờ cuối tên nghe rất hay như: Câu Thuỷ Dao, Vương Thụ Dao, Kim Diệp Dao...

Chữ “Lang”: chỉ một loại ngọc, âm đọc của chữ này trong tên của con gái không thường gặp, nhưng vì chữ “Lang” chỉ một loại ngọc nên vẫn có thể dùng trong tồn của cô gái. Điều cần chú ý những chữ kết hợp với chữ này trên phương diện vê âm đọc phải hài hoà và thuận mỗm như: Tiến Lang Ngọc, Tôn Lang Thuần, Lý Lang Cúc.

Chữ “ưyển ” chỉ một loại ngọc đẹp, chữ “Uyển” và những chữ đồng âm với nó đều rất thích hợp ương việc dùng để đặt tên, so với tần suất sử dụng chữ đổng âm với chữ này nhưng cách viết khác rất thấp. Điều đáng thấy đó là nội hàm trong chữ này rất phù hợp với tên con gái, và có thể kết hợp với nhiều chữ khác như: Lưu Uyển Thanh, Châu Bích Uyển, Tê' Uyển Tuyên...

Chữ “Quỳnh” cũng chỉ một loại ngọc, chỉ dùng những thứ ổẹp và tinh tế. Dùng chữ Quỳnh để nói câu thành ngữ “ Nhà vàng Diệp Ngọc” miêu tả ngôi nhà tráng lệ, sang trọng, và‘câu thành ngữ nói đến loại rượu ngon đều nghe rất hay. Tên Quỳnh Dao một nhà văn nổi tiếng ở Đài Loan càng làm cho chữ “Quỳnh” ưở nên nổi tiếng mọi nơi. Nhưng khảo sát cái tên này ưong danh sách hộ tịch của những họ phổ biến như: Trương, Vương, Lý, Triệu, Lưu những người dùng chữ “Quỳnh” với chữ “Cùng” (nghĩa là nghèo) mà người dùng ít, thực tế dùng chữ “Quỳnh” không những không bao hàm ý nghèo mà còn thể hiện được cái dáng dấp giàu sang quý phái như: Tất Dịch Quỳnh, Lý Quỳnh Vũ, Thịnh Quỳnh Dao...

■ Chữ “Diệu ” là một loại ngọc. Dùng chữ này để đặt tên thường thấy rất ít, chữ đồng âm với chữ này mà thường dùng là chữ Nghiêm và chữ Viêm, cũng không ít người dùng chữ Nghiêm này. Còn dùng chữ Viêm chỉ là số ít, vì những chữ này kết hợp với chữ này rất bình thường rất khó tìm ra trong đó cái tên mà khiển người khác khen hay. Do vậy có thể thấy rằng dùng chữ “Diệu” dể đặt tên cho con chỉ cần tránh được những chữ bình thường trong việc ghép chữ là có thể đạt được hiệu quả vừa không bị trùng tên vừa có ý nghĩa hay như: Trần Diệu Duyệt, Lý Diệu Trác, Trương Diệu Kỳ...

Chữ Thám" ý chỉ châu báu. Xét ưên góc đổ về ý nghĩa của chữ “Thâm” rất thích hợp trong việc dùng đặt tên, nhưng do sự hạn chế âm đọc của chữ này, những chữ kết hợp với chữ “Thâm” thường không có liên quan với nhau mà hàm nghĩa của chúng đổng thời cùng tồn tại. Chính như vậy có thổ mở rộng phạm vi chọn chữ như: Lưu Dĩ Thâm, Trường Kỳ Thâm...

Chữ "Kỳ " là một loại ngọc đẹp. Xét từ góc độ âm đọc chữ này rất dẻ kết hợp với chũ khác. Khảo sát ưong danh sách tài liệu hộ tịch, không hiểu lý do gì mà chữ “Kỳ” dùng đặt tên đơn nhiều. Quả thực những chữ kết hợp với chữ này rất nhiều hơn nữa những chữ kết hợp với chữ này đều là tên đẹp như: Lý Tử Kỳ, Lưu Ngọc Kỳ, Tống Thiên Kỳ...

Chữ "Anh ” cũng là một loại ngọc đẹp, cũng có thể giải thích là màu sắc của ngọc đẹp. Phát âm của chữ “Anh” rất hay, hợp với việc đặt tên, có điều người dùng chữ này hiện quá ít. Tên người mang chữ “Anh” (chữ viết khác) khảo sát trong danh sách tư liệu hộ tịch có rất nhiều họ có tên trùng mà ngày càng xuất hiện nhiêu hơn. Người viết cho rằng xét từ góc độ về mặt ý nghĩa của chữ thì ý nghĩa của chữ “Anh” không kém gì so với chữ “Anh” (chữ viết khác) kia, dùng đặt tên còn thấy hay hơn như: Trương Tường Anh, Vương Anh Phàm, Lưu Cát Anh...

Chữ "Lâm ’Mà viên ngọc đẹp, xét từ góc độ khảo sát danh sách tư liệu hộ tịch việc đùng chữ này đặt tên rất phổ biến, đồng thời cũng rất dễ trùng tên, nhưng cách đọc và ý nghĩa của nó thì rất nhiều người thích. Như vậy, nếu muốn dùng chữ này mà không bị trùng tên phải làm thê' nào, phân tích từ góc độ khảo sát trên danh sách hộ tịch, những người dùng chữ “Lâm” đa số đều là tên đơn như: Vương Lâm, Lý Lâm và có đến hàng ngàn hàng vạn người, còn người dùng chữ Lâm với ba chữ đa số họ đã kết hợp với những chữ đã có thông thường, do vậy để tránh trùng tên phải chọn lựa chữ nào mà âm đọc mới lạ, hay đồng thời phải thuận mổm như: Trương Thì Lâm, Lý Lâm, Tôn Lâm Tiêu...

Chữ "Kỳ” chỉ một loại ngọc đẹp, cũng có ý nghĩa chỉ tên đẹp, khác người. Chữ “Kỳ” với chữ “Kỳ” (khác cách viết) đều có âm đọc hay và mang ý nghĩa hay, nhưng có điều người sử dụng chữ này cũng nhiều. Mặt khác chữ “Kỳ” thích hợp với người có tính cách mạnh mẽ, chỉ cần phối hợp chữ sao cho hợp lý là có tên đẹp như: Lý Kỳ Nhã, Lưu Lỳ Gia, Tôn Kỳ Điệp, Ngô Tiến Kỳ, Trương Dung Kỳ, Tạ Thục Kỳ...

Chữ “Côn" là một loại ngọc, chủng loại ngọc này rất nhiều, có rất nhiều tên gọi hay, “Côn” là loại ngọc được biết đến không nhiều, không bằng sự nối tiếp của chữ “Côn” trong tên Núi Côn Lôn một nơi ai cũng biết tới. Nhưng chữ Côn trong tên Côn Lôn thích hợp với tên của Nam, còn “Côn” (chỉ ngọc) hợp với tên con gái, mà hơn nữa chữ Côn (chỉ ngọc) về âm đọc có kiêm luôn khí phách của chữ Côn (trong Côn Lôn). Do vậy dùng chữ này đặt tên sẽ có cái tên cứng rắn nhưng vẫn toát ra vẻ dịu dàng của người con gái như: Triệu Côn Du, Trương Côn Kỳ, Lý Côn Tiêu...

Chữ "Cư”: Cư là một loại ngọc được trang trí đeo trên người của người xưa. Tần suất sử dụng chữ này trong tên cực thấp, người ngày nay rất hiếm khi nhìn thấy loại ngọc này đeo ưên người. Xét từ góc độ này mà nói, nó chỉ là ngọc có thể đeo trên người nhưng tất nhiên phải là ngọc đẹp. Đặt tên không cần theo đuổi một cái tên hay, nổi tiếng điều quan ưọng là đặt tên đó phải tồn tại. Chữ “Cư” chỉ loại ngọc rất hiếm, chữ “Cư” trong tên người lại càng ít thấy, hai điều này có thể thấy dùng chữ này đặt tên rất hay, độc đáo. Dùng chữ này không nhất thiết tìm những chữ nào phải có hàm nghĩa kết hợp với nó, nhưng chú ý âm đọc, vì có nhiều chữ đọc giống âm này, để tránh sự phát sinh ý nghĩa khác, chữ “Cư” tốt nhất nên đặt ở giữa hoặc cuối nghe hay như: Vương Cư Đồng, Trương Cư Tuyết, Lý Cư Sang...

Chữ "Sắt": Sắt là một loại nhạc khí thời kỳ cổ đại, là một loại nhạc khí có dây. Hiện nay dùng tên của các loại nhạc khi đặt tên chủ yếu dùng chữ “Cầm” và nó cũng được tính là chữ thường dùng trong tên họ. Nếu khảo sát trong đanh sách hộ tịch chữ “Sắt” không phải ỉà chữ thường dùng, người dùng chữ này đặt tên rất ít. sở dĩ chữ này dùng ít trong tên người là do âm đọc cùa nó giống âm chữ khác mà âm chữ đó không phải chữ thích hợp với chữ “Sắt” này. Dùng chữ sắt đặt tên, âm chữ ở cuối tên nên là chữ có âm bằng hoặc chữ có âm hướng đi lên như: Trương sắt Cầm, Lý sắt Tiêu, Chu sắt Đạo...

Chữ "Viên" là một loại khuyên ngọc, chữ “Viên” ưong tên người có tần suất sử dụng không cao hơn so với tần suất sử dụng chữ “Viên” (chỉ con gái đẹp), nhưng về ý nghĩa nội hàm mà nói không kém hơn so với chữ “Viên” đó. Chỉ vì chữ Viên đồng ảm với chữ Yuàn và âm đọc hướng xuống, do vậy không nên dùng ờ cuối tên, tốt nhất nên dùng ở giữa như: Cao Viêm Ụyển, Vương Viên Lê, Trương Viên Công...

Chữ "Du " chỉ loại ngọc đẹp, cũng có thể giải thích là mau sắc của ngọc. Dùng chữ “Du” đặt tên và dùng những chữ chỉ những loại châu báu, ngọc đá dễ kết hợp, như vậy ngọc có thể luôn thấy nhau toả sáng cho nhau như: Phùng Long Du, Lý Lâm Du, Vương Bíờh Du. Nếu không dùng chữ chĩ ngọc để kết hợp cũng có thể có được tên hay như: Tống Du Huy, Vương Du Kính, Triệu Đan Du...

Chiĩ "Khôi” mang ý nghĩa chỉ sự quý hiếm, “Khôi bảo” là một thứ đặc biệt quý giá, trong tên người, người dùng chữ này không nhiều, vì chữ “Khôi” đọc âm “gùi”(nghĩa âm Hán việt là “Quy”), do vậy mà khó ghép chữ, nam giới không thích dùng chữ “Khôi” còn con gái nếu dùng chữ này tạo thành têu nghe rất hay như Khôi Lệ, tên này hình dung sụ vật đẹp khác thường. Khôi Vĩ tên này mang ý nghĩa chỉ tính cách người này rất đặc biệt hay lời văn lời lẽ rất hay. Do vậy có thể thấy rằng dùng chữ “Khôi” để đặt tên hoàn toàn có thể làm được như: Bành Khôi Thu, Thẩm Khôi Lệ, Trịnh Khôi Manh ...

Chữ “Đường” chỉ một loại ngọc. Trong những chữ có liên quan đến ngọc, âm “Đường” rất dễ ghép chữ, dùng trong tên nghe rất hay, nhưng không biết tại sao trong danh sách tư liệu hộ tịch có rất ít người dùng chữ Đường để đạt tên có thể do mọi người không hiểu ý nghĩa của chữ này mà không dám dùng để làm tên. Người viết cho rằng không cần biết giá trị của ngọc như thế nào, chỉ cần là ngọc sẽ có vẻ đẹp bên trong của nó. Chữ này vừa hay lại vừa ý nghĩa, không dùng nó thì thật đáng tiếc.

Dùng chữ "Đường ” đặt tên có thể lợi dụng được độ vang của âm nãy như: Tạ Uyển Đường, Đường Tiểu Đường, Trương úc Đường...

C7ỉữ "Dao ” là một loại ngọc rất đẹp, Đàn Dao Cầm mà người xưa dùng chính là một loại Đàn có khảm ngọc. Dao Trí trong truyền thuyết thẫn thoại là nơi Tây Vương mẫu ở. Dũng chữ “Dao” làm cho tên giàu sắc thái lãng mạn. Dao Trì, Tống Dao Cầm, Trương Dao Gấm, Lý Dao Mai, Chu Dao Trầm. Dùng những chữ tô điểm cho ngọc để tô điểm cho chữ Dao như: Lý Anh Dao, Trương Bích Dao, Vương Trường Dao...

Chữ "Chương" là một loại mỹ nghệ bằng ngọc thời cổ đại. Trong tên người thường gặp nhất là chữ “Chương” (khác cách viết), và con trai đã dùng rất nhiều. Chữ “Chương” thì con gái dùng không nhiều có thể do Chương là một loại mỹ nghệ bằng ngọc và chữ kết hợp với nó bị hạn chế. Nhưng lấy ý nghĩa của hai chữ này và sự tồn tại của nó vẫn có thể tìm được không ít chữ có thể ghép với chữ này như: Ngô Chương Bính, Lý Chương Y, Lưu Thuỷ Chương.

Chữ ‘Tuyền " chỉ một loại ngọc đẹp. Thời kỳ cổ đại người ta gọi ngôi sao thứ nhất đến ngôi sao thứ tư, trong chòm sao Bắc đẩu là Tuyền, vì phát âm của chữ này nghe hay, hàm ý sâu sắc, hơn nữa ảnh Trinh Chu Tuyền nổi tiếng cũng dùng chữ náy làm tên, làm cho nó ai ai cũng nhận ra. Hiện nay số người dùng chữ này làm tên rất nhiều, đặc biệt là tên đơn dùng rất phổ biến. Từ góc độ để ưánh trùng tên nếu dùng chữ “Tuyền” thì những chữ kết hợp với nó phải là chữ mà trong tên xuất hiện sự đối lập ít như: Trương Thư Tuyền, Triệu Vãn Tuyền, Vương Tuyền Mai..

Chữ "Cẩu " là một loại ngọc đẹp. Chữ này thích hợp dùng trong việc đặt tên, dù đặt giữa hay cuối thì tên đọc lên vẫn xuôi như: Lưu Cẩu Đồ, Vương Cẩu Tú, Trương cẩu Vãn, Vương Du cẩu, Trương Định cẩu, Đinh Lê cẩu...

Chữ "ỉỉoùiỉg" là loại ngọc bán nguyệt. Tần suất sử dụng chữ này trong tên rất cao, điều này có thể do vấn đề về âm đọc của nó. Âm đọc của chữ Hoàng dồng âm với chữ “Hoàng” (màu vàng) xét về phương diện màu sắc màu được dũng nhiều nhất trong tên người là Hổng, Tử, Lam còn chữ Hoàng (màu vàng) dùng rất ít, quả thực trong tên người có âm đọc là Hoàng thì không có gì là lạ, thời nhà Thanh có Hoàng đê' mới được phép mặc áo màu vàng, có thể thấy màu vàng cũng là màu có địa vị. Con gái dùng chữ “Hoàng” đặt tên, nếu dùng chính xác sẽ có cái tên hay như: Kim Lê Hoàng, Tần Hoàng Châu, Đào Hoàng Dung...

Chữ “Thôi" dùng để miêu tả màu sắc tươi sáng của châu ngọc. Chữ này khi đọc lên hơi không thuận miệng, nhưng trong danh sách tư liệu hộ tịch có rất nhiều người dùng chữ này làm tên, từ những tư liệu này thấy rằng có một số người dùng chữ này làm tên không phải là dùng chữ này để nói về ngọc mà là dùng nó để nói về người hay vật, một vài cái tên này giàu sức tưởng tượng, rất hấp dẫn đặc sắc. Do đó chúng ta có thể dùng chữ “Thôi” và tự tìm cho mình một chữ mà mình thích để ghép với nó như: Trương Thôi Đồng, Vương Thôi Anh, Chu Thôi Tuyền...

Chữ “Anh” chỉ một loại đá giống ngọc, ngoài ra có từ gọi là chuỗi hạt ngọc là đồ trang sức làm từ ngọc và đco ở trên cổ, có lẽ có một chút giống như dây chuyền hiện nay. Tần suit sử dụng của chữ này trong tên người cũng không cao, nếu bạn thích chữ mang âm này, có thể tránh chữ Anh (khác cách viết) đó tẫn suất ưùng tên cao, dùng chữ Anh thay thế, như vậy có thể ưánh được sự trùng tên một cách hiệu quả và không bị mất đi sự độc đáo của tên đó như: Vương Lạc Anh, Lý Anh, Chương Vân Anh...

Chữ “Phác”: 1'à loại đá ngọc, cũng là loại ngọc không chạm trổ, có câu nói là ngọc nguyên chất để nói vẻ đẹp tự nhiên của nó. Chữ này là chữ thường gặp trong tên người, nam giới dùng nhiều nếu con gái dùng chữ này tốt nhất nên đặt nó ở giữa điều này dễ làm cho chữ “Phác” ở trong tên có ý nghĩa sâu sắc. Nếu dùng nó ở cuối tên sẽ làm người ta lầm tưởng là tên con trai như: Trương Phác Trác, Lý Phác Tâm, Vương Phác Bảo...

Chữ “Lộ" chỉ loại ngọc đẹp. Xét từ góc độ nội hàm và âm đọc của chữ này, chữ này rất thích hợp dùng ưong tên người. Nhưng trong danh sách tư liệu hộ tịch người gọi là Lộ rất nhiều, bất kể họ gì cũng gọi là Lộ Lộ, do vậy bạn chỉ cần đặt tên là Lộ Lộ thì sẽ có mấy chục người trùng tên với bạn. Vì vậy bạn vãn phải tìm chữ nào thích hợp với chữ Lộ thì mới được. Như: Trương Lộ Quyên, Bạch Lộ Bình, Cao Hồng Lộ, Lý Lộ Hàm...

Chữ "Toan": Toản là cái muôi bằng ngọc dùng trong cúng lễ thời cổ đại mang ý nghĩa đưa đồ ãn lên trời. Nếu như bạn tin tưởng tôn giáo, có thể dùng chữ này dặt tên. Con gái dùng chữ này làm tên nên dặt nó vào giữa, như: Tề Toản Tien, Chương Toản Kỳ, Vương Toản Hương...

4. Tham khảo tên của những mỹ nhân trong lịch sử

Danh nhân nữ so với danh nhân nam thì không nhiều nhưng có một số người đáng để tham khảo, người soạn đã tập trung được các tên của những danh nhân nữ, cung cấp cho độc giả có thể tham khảo.

Danh uliâiì họ Trương: Trương Anh Xuân liệt sĩ cách mạng thời kỳ cách mạng dân chủ; Trương Mạn Vân phu nhân của nhà cách mạng Lý Công Phác.

Danh nhân họ Vương: Mỹ nữ nổi tiếng triều Hán Vương Chiêu Quân, nghe nói cô ta có một sắc đẹp tuyệt vời. Nhà nghệ thuật biểu diễn điện ảnh Vương Nhân Mỹ, hoạ sĩ nổi tiếng Vương Thục Huy.

Danh nhân họ Lý: từ nhân đời Tống Lý Thanh Chiếu, nhà nghệ thuật biểu diễn tuồng Bắc Tiểu Bạch Ngọc Sương tên thật là Lý Tái Vãn. Nhà viết kịch, viện trưởng viện kịch nghệ thuật Nguyên nhân dân Lý Bá Siêu. Nhà văn hiện đại: Lý Tinh Hoa.

Danh nhân họ Triệu: anh hùng kháng chiến chống Nhật nổi tiếng Triệu Nhất Man. Tấm gương lao động loàn quốc Triệu Xuân Nga, Triệu Mộng Đào.

Danh nhân họ Lưu: một trong các nhà lãnh đạo trường Đại học Bắc Kinh thời kỳ cách mạng dân chủ Lưu Hoà Châu. Nhà động vật học hiên đại Lưu Ngọc Tố. Nhà dược vật học Lưu Lệ Lâm. Nhà địa lý học và hải dương học Lưu Ân Lan. Phó chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ Lưu Thanh Dương.

Danh nhân họ Ban: nhà sử học thời Đông Hán là Ban Chiêu.

Daiìh nhân họ Báo: nhà văn học thời Tống Bàc Lệnh Huy.

Danh nhân họ Thái: nhà thơ đời Đông Hán Thái Văn Cơ.

Danh nhân họ Thuần ư: người con có hiếu nổi tiếng đời Tây Hán Thuần Ư Đề Vinh.

Danh nhân họ Đổng: tài nữ đời Minh Đổng Tiểu Uyển.

Danh nhân họ Quản: nũ hoạ sĩ đời Nguyên Quản Đạo Thăng.

Danh nhân hợ Thượng Quan: tài nữ đời Đường Thượng Quan Uyên Nhi, nhà nghệ thuật biểu diễn điện ảnh hiện đại Thượng Quan Vân Châu.

Danh nhân họ Vỡ: nữ hoàng Võ Tắc Thiên đời Đường.

Danh nhân họ Ngư: nhà thơ nữ đời Đường Ngư Thuyền Cơ. ,

Danh nhân họ Ngu: sủng phi của sở Bá Vương cuối đời Tấn là Ngu Cơ.

Danh nhân họ Thạch: nhà vãn thời cận đại Thạch Bĩnh Mai.

Danh nhán họ Soái: uỷ viên Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Soái Mạnh Kỳ.

Danh nhân họ Diệp: nhà vần hiện đại Diệp Linh Phong.

Danh nhân họ Bạch: nhà vãn hiện đại Bạch Vi.

Danh nhân họ Phùng: nhà văn học, nhà giáo dục Phùng Nguyên Quân.

Danh nhân họ Hướng: liệt sĩ Hướng Tú Lệ.

Danh nhân họ Hoa: chuyên gia về tàu biển hiện dại Hoa Di.

Danh nhãn họ Giang: liệt sĩ Giang Trúc Duân.

Danh nhân họ Hứa: anh hùng kháng Nhật Hứa Thành Thục.

Danh nhân họ Ngityễn: diễn viên diện ảnh nổi tiếng thời hiên đại Nguyên Linh Ngọc.

Danh nhân họ Tôn: đạo diễn kịch nổi tiếng thời hiện đại Tôn Duy Thể.

Danh nhân họ Nghiêm: nhà nghệ thuật biêu diễn kịch Hàng Mai thời hiên đại Nghiêm Phương Anh.

Danh nhân họ Ngô: nhà giáo dục thời hiện đại Ngô Di Phương. Nhà tế bào học thực vật Ngô Tố Thuyên.

Danh nhân họ Hà: nhà hoạ sĩ, cách mạng nổi tiếng Hà Thương Ngưng.

Danh nhân họ Ngôn: nhà biểu diên nghệ thuật kinh kịch hiện đại Ngôn Tuệ Châu.

Danh nhân họ Thẩm: nhân sĩ dân chủ Thẩm Tính Nguyên, uỷ viên hội phụ nữ loàn quốc Thẩm Tư Cửu.

Danh nhân họ Lư: nhà văn hiện đại Lư Ân. * ♦ *

Danh nhân họ Trần: liệt sĩ Trần Thiếc Quân, nhà văn nhà kịch sử học Trần Hoành Triết.

Danh nhân họ Phạm: diễn viên điện ảnh nổi tiếng thời hiộn dại Phạm Tuyết Minh.

Danh nhân họ Lâm: diễn viên điện ảnh nổi tiếng thời hiện đại Lâm Đới, nhà y học chuyên gia khoa phụ sản Lâm xẩo Trĩ.

Danh nhân họ Kim: nhà biểu diễn nghệ thuật nổi tiếng thời hiện đại Kim Vân Quý.

Danh nhân họ Chu: diễn viên điện ảnh, ngôi sao ca rihạc Chu Tuyền.

Danh nhân họ Hồ: uỷ viên Uỷ ban hiệp thương chính trị toàn quốc Hồ Tử Anh.

Danh nhân họ Du: nhà ngồn ngữ học hiên đại Du Đại Chẩn.

Danh nhân họ Diêu: nhà viết kịch hiện đại Diêu Thuỷ Quyên.

Danh nhân họ Đồ: nhà y học hiện đại Đổ Liên Anh.

Danh nhân họ cố: nhà biểu diễn nghệ thuật kịch hiện đại Cố Nguyệt Châu, liệt sĩ Cố Chính Hồng, nhà diễn tấu đàn dương cầm Cố Thánh Anh.

Danh nhân họ Từ: nhà biểu diễn nghệ thuật hát và kể chuyện hiện đại Tù Lệ Tiên.

Danh nhân họ Cao: liêt sĩ Cao Điềm Ba.

Danh nhân họ Quách: liệt sĩ cách mạng Quách Long Chân.

Danh nhân họ Phổ: phu nhân nguyên Soái Bành Đức Hoài bà Phố An Tu, nhà báo nổi tiếng Phố Hi Tu.

Danh nhân họ Tiêií: nhà văn hiện đại Tiêú Hồng.

Danh nhân họ Thôi: nhà sinh vật học hiện đại Thôi Chi Lan.

Danh nhân họ Hàn: nhà biểu diễn nghệ thuật gõ phách tỉnh Hà Bắc thời hiện đại Hàn Tuân Khanh.

Danh nhân họ Thư: nhà biểu diễn nghê thuật kịch, điện ảnh hiện đại Thư Tú Văn.

Danh nhân họ Tầng: uỷ viên thường uỷ hiệp thương chính ưị toàn quốc Tằng Hiền Thục.

Danh nhân họ Tạ: uỷ viên Uỷ ban chính trị pháp luật viện hành chính, chủ tịch tổng bộ liên minh Đài Loan Tạ Tuyết Hổng.

Danh nhân họ Mộ Dung: diễn viên truyền hình, kịch nói hiên đại Mộ Dung Ưyển Nhi.

Tham khảo tên của các nữ danh nhân trong lịch sử, không nhất thiết quá câu nệ, vào tên họ, chỉ cần lấy tên nào bạn thíơh-dổi thành tên họ của mình là được. Ví dụ như bạn họ Lý, bạn thích tên Tạ Tuyết Hồng, bạn có thể đặt cho con bạn cái tên như: Lý Tuyết Hồng. Đương nhiên trên cơ sở của các danh nhân phải có sự thay đổi, như bạn họ Dư bạn thích lấy tên là Huyền Cơ nhưng lại không muốn con bạn có tên giống với các danh nhân trong lịch sử, bạn có thể đổi hai chữ đồng âm sửa thành Dư Tuyền Cơ. Cũng có thể thay đổi những chữ cá biệt trong sô' những tên danh nhân trong lịch sử như nếu bạn họ Đổng bạn thích chữ Đổng Tiểu Uyển, bạn có thể dổi chữ “Tiểu” thành chữ “Hiểu: và bạn có tên Đổng Hiểu Uyển.

Đặt tồn như vậy quá đơn giản và tiện lợi, lại có thể có được một cái tên lý tưởng.

 

Bài viết cùng chủ đề

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế (Quẻ số 64 trong Kinh Dịch) Có Ý Nghĩa Tốt Hay Xấu? Luận giải chính xác dể hiểu

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế (Quẻ số 64 trong Kinh Dịch) Có Ý Nghĩa Tốt Hay Xấu? Luận giải chính xác dể hiểu

Ngọc Phương
Ngọc Phương 1 năm trước

Ý Nghĩa Quẻ Số 64 Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế Hung Hay Cát: Luận giải chi tiết

“Minh Đường” trong Phong thủy học Nhà đất là gì? “Đại minh đường”, “Trung minh đường”, “Tiểu minh đường” là gì?

“Minh Đường” trong Phong thủy học Nhà đất là gì? “Đại minh đường”, “Trung minh đường”, “Tiểu minh đường” là gì?

Ngọc Phương
Ngọc Phương 1 năm trước

Trong Phong thuỷ học “Minh Đường” là gì? Ý nghĩa khi mua nhà đất thế Minh Đường cập nhật 2024